GIỚI THIỆU

QUY ĐỊNH VỀ TỰ CHỦ, ĐÀO TẠO TRONG LUẬT GIÁO DỤC ĐẠI HỌC NĂM 2025

 

      Ngày 10 tháng 12 năm 2025 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XV đã thông qua Luật Giáo dục đại học (Luật số 125/2025/QH15) nhằm thay thế cho Luật Giáo dục đại học đã được Quốc hội ban hành ngày 18 tháng 6 năm 2012 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học ngày 19 tháng 11 năm 2018. Luật mới bắt đầu có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026. Đại học Cần Thơ trân trọng giới thiệu những nội dung chính yếu liên quan đến vấn đề tự chủ và đào tạo được quy định trong Luật Giáo dục đại học năm 2025 (sau đây viết tắt là Luật GDĐH).

     1. Những quy định về tự chủ đại học và trách nhiệm giải trình

     Thứ nhất, khái niệm quyền tự chủ được định nghĩa tại khoản 2 Điều 2 Luật GDĐH. Theo đó, “Quyền tự chủ là quyền được chủ động quyết định gắn với trách nhiệm giải trình theo quy định của pháp luật về chuyên môn học thuật, đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, cơ cấu tổ chức, nhân sự, tài chính và hoạt động giáo dục đại học khác.” Định nghĩa này cho thấy 3 nội dung cần lưu ý: (i) quyền tự chủ của các trường phải gắn với trách nhiệm giải trình, (ii) các nội dung được tự chủ gồm chuyên môn học thuật, đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, cơ cấu tổ chức, nhân sự, tài chính và hoạt động giáo dục đại học khác, và (iii) tự chủ là tự quyết định trên cơ sở (khuôn khổ) quy định của pháp luật có liên quan.

     Thứ hai, khoản 1 Điều 14 Luật GDĐH quy định các cơ sở giáo dục đại học được tự chủ thực hiện các quyền hạn sau:

1.      Xác định số lượng tuyển sinh, lựa chọn phương thức tuyển sinh, tổ chức đào tạo, liên kết đào tạo, cấp văn bằng khi đáp ứng điều kiện bảo đảm chất lượng, trừ các ngành đào tạo giáo viên, quốc phòng và an ninh;

2.      Tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, sử dụng, khai thác hợp pháp tài sản, tài nguyên, sở hữu trí tuệ, hoạt động hợp tác quốc tế;

3.      Thực hiện nội dung thu, chi, phân phối kết quả tài chính, quản lý tài sản, đầu tư phát triển, huy động các nguồn lực hợp pháp với tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật, trừ các cơ sở giáo dục đại học thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an;

4.      Xác định số lượng người làm việc, tuyển dụng các nhà khoa học uy tín trong và ngoài nước làm việc tại cơ sở, trừ các cơ sở giáo dục đại học thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an;

5.      Được tổ chức thực hiện các trình độ đào tạo khác khi đáp ứng quy định của pháp luật có liên quan và của Chính phủ;

6.      Thực hiện các quyền hạn khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

      Tuy nhiên, những nội dung tự chủ nêu trên chỉ mang tính nguyên tắc, còn cụ thể mức độ tự chủ như thế nào, điều kiện tự chủ ra sao thì Luật không quy định chi tiết mà giao cho Chính phủ ban hành nghị định để quy định cụ thể (khoản 4 Điều 14 Luật GDĐH). Vì vậy, để xác định cụ thể nội dung của quyền tự chủ cần căn cứ thêm vào các nghị định hướng dẫn của Chính phủ và các văn bản dưới luật khác có liên quan như thông tư.

      Thứ ba, Luật cũng quy định mang tính nguyên tắc những trách nhiệm mà cơ sở giáo dục đại học phải thực hiện, gồm:

1.      Bảo đảm các nguyên tắc hoạt động giáo dục đại học;

2.      Bảo đảm chất lượng, định kỳ đánh giá, rà soát, cải tiến nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển và chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo;

3.      Thực hiện sứ mạng cụ thể, chiến lược phát triển do cơ quan quản lý trực tiếp phê duyệt đối với cơ sở giáo dục đại học công lập; nhà đầu tư phê duyệt đối với cơ sở giáo dục đại học tư thục, phù hợp với chiến lược giáo dục đại học;

4.      Thực hiện chuyển đổi số trong quản trị, quản lý; xây dựng mô hình giáo dục đại học số, bảo đảm an toàn thông tin, quyền sở hữu trí tuệ;

5.      Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; trách nhiệm đối với người học, xã hội;

6.      Đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật, cơ sở vật chất; thực hiện hoạt động bảo đảm chất lượng bên trong, đánh giá, kiểm định chất lượng;

7.      Công khai trung thực, đầy đủ thông tin về tổ chức, hoạt động, chất lượng, tài chính; tiếp nhận, xử lý, phản hồi kiến nghị từ các bên liên quan; thực hiện hoạt động tự kiểm tra theo quy định của pháp luật;

8.      Báo cáo, cập nhật thông tin theo quy định của pháp luật; cơ sở giáo dục đại học tư thục có trách nhiệm báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo khi có quyết định thay đổi nhà đầu tư;

9.      Đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giảng viên, nhà khoa học;

10. Tham gia xây dựng, góp ý phản biện chính sách giáo dục và đào tạo;

11. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người học, giảng viên, người lao động, tổ chức, cá nhân có liên quan;

12. Thực hiện trách nhiệm khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

      2. Những quy định về đào tạo

      Hoạt động đào tạo của cơ sở giáo dục đại học được quy định tại Chương III của Luật GDĐH, từ Điều 21 đến Điều 26. Nội dung các điều luật về đào tạo chủ yếu như sau:

      2.1. Cấp phép hoạt động giáo dục đại học

     Điều 21 yêu cầu cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục khác có hoạt động giáo dục đại học (gọi chung là cơ sở đào tạo) phải được cơ quan có thẩm quyền cấp phép hoạt động giáo dục đại học theo quy định của Chính phủ.

      2.2. Chuẩn chương trình đào tạo

     Điều 22 quy định về chuẩn chương trình đào tạo. Chuẩn chương trình đào tạo quy định những yêu cầu chung trong xây dựng, thực hiện chương trình đào tạo, gồm mục tiêu, yêu cầu đầu vào, chuẩn đầu ra, cấu trúc, khối lượng học tập tối thiểu, nguyên tắc kiểm tra, đánh giá, điều kiện bảo đảm chất lượng. Chuẩn chương trình đào tạo bảo đảm yêu cầu sau đây:

a)      Đáp ứng yêu cầu của từng trình độ tương ứng quy định tại Khung trình độ quốc gia Việt Nam;

b)     Tính liên thông giữa các trình độ, giữa các ngành và liên ngành, tính cập nhật;

c)      Gắn kết nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong thiết kế, triển khai chương trình đào tạo;

d)     Cho phép áp dụng các phương thức tổ chức đào tạo linh hoạt, tạo điều kiện học tập suốt đời;

đ) Định kỳ rà soát, đánh giá nâng cao chất lượng đào tạo.

      Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm:

a)      Quy định, ban hành chuẩn chương trình đào tạo theo ngành, lĩnh vực trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng, ban hành chuẩn chương trình đào tạo đối với các ngành đào tạo thuộc lĩnh vực sức khỏe, pháp luật;

b)     Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan quy định về điều kiện bảo đảm chất lượng thực hiện chương trình đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ các ngành thuộc lĩnh vực sức khỏe, pháp luật, văn hóa, nghệ thuật, thể thao, quốc phòng và an ninh;

c)      Kiểm tra, giám sát thực hiện chuẩn chương trình đào tạo.

      2.3. Xây dựng, phát triển chương trình đào tạo

      Điều 23 quy định về  xây dựng, phát triển chương trình đào tạo. Cụ thể:

a)      Chương trình đào tạo được thiết kế đơn ngành hoặc liên ngành, thuộc Danh mục ngành đào tạo; có thể tích hợp một số học phần ở trình độ cao hơn hỗ trợ người học phát triển năng lực nền tảng, tiếp cận trình độ đào tạo kế tiếp theo Khung trình độ quốc gia Việt Nam.

b)      Chương trình đào tạo được rà soát, cập nhật, cải tiến định kỳ bảo đảm phù hợp thực tiễn, nhu cầu nhân lực của thị trường lao động.

c)       Cơ sở đào tạo chủ động xây dựng chương trình đào tạo theo chuẩn chương trình đào tạo; phát triển các chương trình đào tạo tài năng, chương trình đào tạo khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

d)     Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an ban hành chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực quốc phòng và an ninh.

       Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm sau đây:

a) Ban hành Danh mục ngành đào tạo các trình độ của giáo dục đại học;

b) Quy định yêu cầu, quy trình xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo của cơ sở đào tạo;

c) Quy định quy trình biên soạn, ban hành chương trình, giáo trình dạy và học các môn học, học phần bắt buộc sử dụng chung trong chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học.

       2.4. Phê duyệt, tổ chức thực hiện chương trình đào tạo

      Điều 24 quy định về  Phê duyệt, tổ chức thực hiện chương trình đào tạo. Cụ thể:

     - Hiệu trưởng cơ sở đào tạo phê duyệt các chương trình đào tạo trừ những chương trình quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 24, tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo thuộc phạm vi ngành, lĩnh vực được phê duyệt và cấp phép hoạt động.

     - Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định việc phê duyệt các chương trình đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ các ngành đào tạo giáo viên, lĩnh vực sức khỏe trên cơ sở phối hợp với Bộ Y tế, lĩnh vực pháp luật trên cơ sở phối hợp với Bộ Tư pháp.

     - Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện các trách nhiệm sau đây:

a) Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục phê duyệt, đình chỉ, chấm dứt thực hiện chương trình đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ;

b) Quy định việc phê duyệt chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ đối với các ngành, lĩnh vực không thuộc quy định tại khoản 2 Điều 24.

      2.5. Tuyển sinh

      Điều 25 quy định về tuyển sinh. Cụ thể:

     - Việc tuyển sinh phải bảo đảm nguyên tắc công bằng, khách quan, công khai, minh bạch; có lộ trình phù hợp khi điều chỉnh, bảo đảm quyền lợi của người dự tuyển.

    - Cơ sở đào tạo xác định số lượng tuyển sinh, phương thức tuyển sinh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quyết định số lượng tuyển sinh, phương thức tuyển sinh đối với các cơ sở đào tạo thuộc lĩnh vực quốc phòng và an ninh.

    - Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện các trách nhiệm sau đây:

a) Ban hành quy chế tuyển sinh các trình độ của giáo dục đại học bao gồm: nguồn tuyển, ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào, nguyên tắc, yêu cầu, quy trình tổ chức tuyển sinh, phương thức tuyển sinh, việc đình chỉ tuyển sinh;

b) Quy định tiêu chí, nguyên tắc, trình tự và phương pháp xác định số lượng tuyển sinh;

c) Quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, các ngành thuộc lĩnh vực sức khỏe trên cơ sở phối hợp với Bộ Y tế, các ngành đào tạo thuộc lĩnh vực pháp luật trên cơ sở phối hợp với Bộ Tư pháp;

d) Quyết định số lượng tuyển sinh đối với các ngành đào tạo giáo viên.

      2.6. Tổ chức đào tạo và cấp văn bằng, chứng chỉ

     Điều 26 quy định về  tổ chức đào tạo và cấp văn bằng, chứng chỉ. Cụ thể:

     - Việc tổ chức đào tạo được thực hiện linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng, học tập suốt đời của người học.

     -  Hình thức đào tạo bao gồm:

a) Đào tạo chính quy thực hiện tập trung toàn thời gian tại các địa điểm đào tạo được cấp phép hoạt động;

b) Đào tạo thường xuyên thực hiện theo thời gian linh hoạt, tại các địa điểm đào tạo đáp ứng điều kiện bảo đảm chất lượng được cấp phép hoạt động.

     - Phương thức tổ chức đào tạo gồm:

a) Trực tiếp;

b) Từ xa;

c) Kết hợp giữa trực tiếp và từ xa.

      -  Giáo dục đại học số là mô hình tổ chức đào tạo dựa trên nền tảng số, cập nhật công nghệ mới, được triển khai qua các hình thức, phương thức đào tạo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này; bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu, tài nguyên giáo dục mở giữa cơ sở đào tạo và các bên liên quan, không giới hạn bởi không gian, thời gian.

     - Văn bằng, chứng chỉ giáo dục đại học có giá trị pháp lý xác nhận trình độ, năng lực của người học, được cấp theo quy định như sau:

a) Văn bằng giáo dục đại học cấp cho người học sau khi hoàn thành chương trình đào tạo ở trình độ tương ứng;

b) Chứng chỉ giáo dục đại học cấp cho người học sau khi hoàn thành học phần hoặc một phần của chương trình đào tạo.

     - Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học, người đứng đầu cơ sở giáo dục khác có hoạt động giáo dục đại học thực hiện việc cấp văn bằng, chứng chỉ giáo dục đại học.

    - Kết quả học tập đã tích lũy của người học được công nhận và chuyển đổi giữa các trình độ, hình thức, phương thức đào tạo, thời hạn giá trị kết quả học tập theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

    - Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế đào tạo các trình độ của giáo dục đại học; quy định điều kiện triển khai các hình thức, phương thức đào tạo, chứng chỉ giáo dục đại học; mô hình giáo dục đại học số; khai thác, sử dụng tài nguyên giáo dục mở trong hoạt động giáo dục đại học.

     3. Những quy định liên quan giảng viên và người học

     Luật mới quy định mang tính nguyên tắc về quyền, nghĩa vụ của giảng viên đại học (Điều 30) và quyền, nghĩa vụ của người học (Điều 32). Cụ thể:

Quyền, nghĩa vụ của giảng viên đại học gồm:

1.      Giảng viên cơ hữu thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Nhà giáo và quy định khác của pháp luật có liên quan.

2.      Giảng viên đồng cơ hữu thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật có liên quan và quy định của cơ sở đào tạo.

3.      Giảng viên thỉnh giảng và giảng viên hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và của cơ sở đào tạo.

Quyền, nghĩa vụ của người học gồm:

1.      Người học thực hiện quyền, nghĩa vụ và được hưởng các chính sách theo quy định của Luật Giáo dục, quy định của Luật GDĐH và quy định khác của pháp luật có liên quan.

2.      Người học được lựa chọn theo học chương trình đào tạo phù hợp với năng lực cá nhân khi đáp ứng điều kiện tuyển sinh; được tham gia hoạt động trợ giảng theo quy định của cơ sở đào tạo; được tạo điều kiện thực hành, thực tập tại doanh nghiệp và cơ quan sử dụng lao động trong quá trình học tập.

3.      Người học được tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp; được hỗ trợ đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, phát minh sáng chế, giải pháp hữu ích, tác phẩm, kết quả nghiên cứu thực hiện tại cơ sở đào tạo.

      Đại học Cần Thơ trân trọng giới thiệu và đề nghị toàn thể viên chức, người lao động, người học trong Nhà trường tìm hiểu, thực hiện Luật Giáo dục đại học năm 2025./.

 

(Luật Giáo dục đại học năm 2025 được đăng tại Cổng thông tin điện tử Chính phủ TẠI ĐÂY)

 

(Biên tập bởi Phòng Pháp chế - Đại học Cần Thơ)

Thông báo

Liên kết Website

Phòng Pháp chế, Đại học Cần Thơ
Lầu 3, Nhà điều hành - Khu II đường 3-2 Tp Cần Thơ
Email: ppc@ctu.edu.vn      Điện thoại: (0292) 3872 114